Chùa Ba Vàng nằm trên địa bàn phường Quang Trung, cách Trung tâm Thành phố khoảng 4km, nằm cạnh điểm du lịch sinh thái Lựng Xanh, với hệ thống giao thông đường bộ mới được đầu tư, rất thuận tiện cho du khách di chuyển trong tuyến du lịch Yên Tử - hồ Yên Trung - hồ Công Viên - Ba Vàng - Lựng Xanh. Đến với di tích, danh thắng chùa Ba Vàng, du khách sẽ được thăm các công trình kiến trúc lớn, các đồi thông bao quanh. Tại đây, du khách có thể nhìn bao quát toàn bộ trung tâm Thành phố, hướng ra xa là sông Bạch Đằng.
 

    Hội chùa Ba Vàng bắt đầu diễn ra từ ngày 08 tháng giêng (âm lịch) hàng năm. Ngày chính hội cũng là ngày sinh nhật của vị sư tổ đầu tiên của Chùa - Thiền sư Tuệ Bích Phổ Giác. Chùa là nơi thờ Phật, nơi hành đạo của các tăng ni, phật tử, bên cạnh đó Chùa cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hoá, các nghi lễ tôn giáo - tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm linh của đông đảo nhân dân trong vùng và các nơi lân cận.

    Di tích chùa Ba Vàng nằm trên một vị trí địa lý hết sức đẹp và hiếm có, mặt bằng rộng rãi, tiền cảnh phong quang là nơi hội tụ linh khí của vùng đất Uông Bí. Chùa được đầu tư với quy mô lớn, nhiều công trình kiến trúc đồ sộ. Với những giá trị trên, chùa Ba Vàng được UBND tỉnh Quảng Ninh xếp hạng “Di tích lịch sử văn hoá” năm 2007.

    Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời chính xác chùa Ba Vàng được khai sơn từ khi nào. Theo nội dung khắc trên cây hương đá trước cửa chùa thì chùa xưa được dựng vào năm Ất Dậu, triều vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (tức năm 1706) và ngôi chùa lúc đó được gắn liền với tên tuổi Ngài Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác (1659 – 1758). Tuy nhiên, căn cứ vào những dấu tích di chỉ được các nhà khảo cổ thêm thì ngôi chùa còn có thể được xây dựng từ sớm hơn, tức là vào thời Trần thế kỷ thứ 13.

    Tuy nhiên chùa xưa chỉ còn là phế tích, để phát huy giá trị văn hóa lịch sử ngôi chùa liên tiếp được đầu tư tôn tạo. Ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ và sau đó năm 1993 chùa được trùng tu lại bằng xi măng.

    Hiện vật đáng chú ý nhất của chùa Ba Vàng còn sót lại tới hôm nay là một số di vật bằng đá, bao gồm 1 bia đá cao 0,52 m, rộng 0,38 m, dày 0,12 m, 2 con rùa đá và 1 cây hương bằng đá cao 1,2 m 4 mặt, mỗi mặt rộng 0,22 m. Theo dòng chảy thời gian, chữ Hán trên bia đá và cây hương đá đã mòn, rất khó đọc. 


    Riêng cây hương bằng đá, phần lớn chữ ở mặt bia đã bị phai mờ, chỉ còn lại một số chữ lớn giáp đầu bia ghi các chữ: Thành Đẳng Sơn, Bảo Quang tự, Thiên đài trụ. Nghĩa là trụ đài đá chùa Bảo Quang, núi Thành Đẳng.